Gợi ý: âm nhạc dân tộc, âm nhạc cung đình, mẫu hệ, bảo tàng....
RỪNG CẬN NHIỆT ĐỚI :

đai rừng phân bố theo vĩ độ tương ứng với đới khí hậu cận nhiệt đới, từ vĩ độ 24o đến 37 - 38o ở cả hai bán cầu và theo vành đai độ cao 600 - 1.000 m, đến 2.400 - 3.000 m. Ở miền núi nhiệt đới (ở đây còn được gọi là rừng nhiệt đới miền núi), nơi có nhiệt độ trung bình hằng năm 15 - 20oC, nhiệt độ thấp có thể xuống dưới 0oC một vài độ. Lượng mưa hằng năm 600 - 1.900 mm hoặc hơn tuỳ theo độ ẩm từng khu vực, nhất là tuỳ theo sườn  phía đông hoặc phía tây của dãy núi. Đặc trưng là những quần thể cây lá rộng thường xanh, cây lá rộng rụng lá hoặc quần thể hỗn loài cây lá rộng với cây lá kim hoặc chỉ có loài cây lá kim. Thường được phân thành ba kiểu rừng:

1. Rừng mưa thường xanh cận nhiệt đới.

2. Rừng lá cứng còn gọi là rừng lá bóng (chịu khô rét) như là một số rừng bạch đàn ở vùng cận nhiệt đới Ôxtrâylia.

3. Rừng cây thuộc chi Long não (Laurus), họ Long não (Lauraceae) ở vùng sương mù miền núi cận nhiệt đới, tiếp giáp với vùng khí hậu ôn đới, điển hình là rừng ven Địa Trung Hải. Phân bố rộng khắp ở Bắc Bán Cầu cũng như Nam Bán Cầu: ở miền duyên hải vịnh Mêhicô, Đông Nam Hoa Kì, Bôlivia, Paragoay, Đông Nam Braxin, ven Địa Trung Hải, Biển Đen, Bắc Ấn Độ, Nam Trung Quốc, Nam Nhật Bản, Nam Triều Tiên, cao nguyên Châu Phi, Đông Nam Ôxtrâylia.

Ở Việt Nam, hầu hết RCNĐ  ở miền núi, phân bố ở Miền Nam (ở độ cao 1.000 - 2.600 m),  ở Miền Bắc (600 - 2.400 m). Ở độ cao hơn, đã xuất hiện nhiều loài thiết sam (Tsuga yunnanensis), một loài cây đặc hữu của vùng ôn đới. RCNĐ miền núi Việt Nam thể hiện nhiều kiểu khác nhau. Theo Thái Văn Trừng, có ba kiểu chính:

1. Rừng kín thường xanh ẩm cận nhiệt đới núi thấp: ở đèo Lâya (Cao Bằng), Đồng Văn (Hà Giang), Sa Pa (Lào Cai), Kon Tum, Đắk Lắk, Hòn Bá.

2. Rừng kín hỗn hợp cây lá rộng, lá kim cận nhiệt đới núi thấp: ở Sa Pa, Mường Phang (Lai Châu), Ngọc Áng, Chử Yang Sin.

3. Rừng thưa cây lá kim cận nhiệt đới hơi khô núi thấp: ở Mộc Châu (Sơn La), Thuận Châu (Lai Châu), Đà Lạt, Chử Yang Sin.